Xu hướng giáo dục đại học: Những biến đổi lớn

TTCT - Giáo dục đại học (GDĐH) khắp thế giới đang biến đổi rất nhanh và vô cùng sâu sắc trên hầu hết phương diện, đòi hỏi phải nhận thức lại nhiều khái niệm về GDĐH, tư duy lại nhằm hiểu đúng những gì đang diễn ra bên trong và bên ngoài trường ĐH.

Với 2 tỉ người dùng Internet hiện nay, mỗi ngày có 250 tỉ email được gửi đi, mỗi tháng có 100 tỉ tìm kiếm thực hiện trên Google search. Trong hai năm qua, chúng ta tạo ra một khối lượng dữ liệu bằng toàn bộ lịch sử loài người trước đây đã tạo ra, và khối lượng này tăng gấp đôi mỗi chu kỳ 18 tháng.

Mạng xã hội và Internet đã xóa tan mọi biên giới, phá vỡ khái niệm về học tập và làm việc. Mua hàng, kết bạn, làm việc, tìm thông tin, gắn kết với xã hội, liên lạc với toàn thế giới, lấy chứng chỉ... tất cả chỉ cần qua một màn hình.

Trong cơn lốc ấy, bản đồ GDĐH cũng đang thay đổi cực nhanh. Hệ thống GDĐH các nước trong tương lai sẽ phát triển như thế nào?

Hậu đại chúng hóa

Trong thập kỷ qua, chúng ta đã nghe nói nhiều về đại chúng hóa GDĐH, chấm dứt thời GDĐH là đặc quyền của một tầng lớp tinh hoa.

Trong vòng 20 năm qua, GDĐH đã mở rộng ở một quy mô chưa từng có tiền lệ: Trung Quốc hiện có 29 triệu sinh viên ĐH và là hệ thống lớn nhất thế giới hiện nay, trong khi năm 1998 chỉ có 6 triệu sinh viên, tỉ lệ dân số vào ĐH trong độ tuổi tăng gần bốn lần, từ 7%-25% trong vòng 15 năm, ở một số thành phố lớn tỉ lệ này là trên 80%.

Ấn Độ có 11 triệu sinh viên, lớn thứ ba trên thế giới. Ở Việt Nam, mức tăng cũng không kém ấn tượng: từ 893.754 sinh viên (năm 1999) tăng đến 2.177.299 (năm 2013), tức 2,43 lần trong vòng 14 năm. Tỉ lệ vào ĐH trong độ tuổi hiện rất cao ở một số nước: Hàn Quốc đạt đến gần 100%.

Trên phạm vi toàn cầu, nếu năm 1960 tổng số sinh viên tất cả các nước là 13 triệu thì năm 1995 là 82 triệu, năm 2011 là 200 triệu (Philip G. Altbach, 2012).

Động lực thúc đẩy đại chúng hóa GDĐH là sự phát triển của kinh tế tri thức toàn cầu hóa. Chính phủ các nước và từng cá nhân đều ý thức rõ tri thức tạo ra của cải, tạo ra tăng trưởng kinh tế và làm thay đổi thang bậc xã hội.

Nhưng rất nhanh, ta đang bước vào thời kỳ hậu đại chúng hóa GDĐH. Sở dĩ như vậy là vì đại chúng hóa GDĐH kéo theo nguồn lực công dành cho GDĐH suy giảm trên toàn thế giới, hậu quả là tư nhân hóa và khu vực GDĐH vì lợi nhuận ngày càng tăng trưởng, hầu hết hệ thống GDĐH các nước, nhất là các nước đang phát triển có mức tăng trưởng quá nóng, đều phải tái cấu trúc.

Các bảng xếp hạng ĐH toàn cầu phản ánh nhu cầu cạnh tranh trên bản đồ tri thức, mà thực chất là bản đồ địa chính trị, đã thúc đẩy các nước có ý thức xây dựng một hệ thống phân tầng, trong đó chỉ một số ít trường được đầu tư mạnh để trở thành những trường ĐH nghiên cứu theo mô hình tinh hoa.

Xếp hạng đã tạo ra một nỗi ám ảnh cho chính phủ các nước và lãnh đạo các trường trong hai thập kỷ qua, chi phối lịch trình chính sách và cách sử dụng nguồn lực của chính phủ các nước cũng như định hình cách xử sự của giới quản lý, giới giảng viên các trường.

Mãi cho đến gần đây, người ta mới bắt đầu nhận ra xếp hạng là một trò chơi chỉ thích hợp cho một số rất ít trường ĐH, không nên để nó trở thành một động lực làm lệch hướng sứ mạng thật sự của các trường, khiến họ chạy theo những thước đo về sự ưu tú thay vì theo đuổi sự ưu tú thật sự.

Đầu tư công cho GDĐH ở các nước phát triển đang giảm. Sự tham gia của khu vực tư nhân vào GDĐH ngày càng nổi bật, nhất là ở châu Á, cho thấy tỉ lệ trường tư và sinh viên trong các trường tư trên tổng số sinh viên và tổng số trường.

Ví dụ, 78% sinh viên ở Hàn Quốc đang học ở trường ĐH tư và tỉ lệ trường ĐH tư ở nước này là 87%, con số tương tự ở Nhật là 77% và 86%, Philippines là 81% và 75%, Indonesia là 96% và 71%, Việt Nam là 14% và 19%. Ngay ở các trường công lập, sự tham gia của nguồn lực tư nhân cũng ngày càng lớn, dưới hình thức hiến tặng, hợp tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ sáng nghiệp...

Người ta phải tự hỏi nếu một trường công vận hành với 10% ngân sách do chính phủ cấp thì liệu có còn là trường công? (John Aubrey, 2014). Hoặc đang có những trường được vận hành bằng 100% kinh phí nhà nước nhưng do tư nhân điều hành hoàn toàn (charter school ở Hoa Kỳ).

Sự tham gia ngày càng nhiều của khu vực tư và sự phát triển của giáo dục xuyên biên giới, việc các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đào tạo bước vào thị trường GDĐH... đang đặt ra những tranh cãi gay gắt.

Liệu các trường có thể được xem là, hay được đối xử như một doanh nghiệp kinh doanh tri thức giống như những doanh nghiệp khác? Liệu có giới hạn nào mà việc kinh doanh giáo dục phải tuân thủ? Mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp có được chấp nhận đối với trường ĐH, và nếu không thì vì sao?

Sự thay đổi của trường ĐH thời hậu đại chúng hóa

 

Trường ÐH theo mô hình tinh hoa

Thời kỳ đại chúng hóa GDÐH

Hậu đại chúng hóa GDÐH

Nhân vật chính

Giáo sư

Các nhà quản lý nhà trường và quản lý hệ thống GDÐH

Sinh viên

Ðịnh hướng giá trị

Sự ưu tú

Ðảm bảo chất lượng

Sự hài lòng của sinh viên

Từ khóa

Tự do học thuật

Quản lý

Trải nghiệm ÐH

Vai trò của giới hàn lâm

Nghiên cứu > giảng dạy > quản lý

Nghiên cứu = giảng dạy = quản lý

Nghiên cứu < giảng dạy = quản lý

• Sản xuất tri thức mới thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học

•  Khoa học cơ bản được xem trọng hơn khoa học ứng dụng

 

•  Gắn kết giảng dạy và nghiên cứu

• Khoa học ứng dụng được xem trọng hơn khoa học cơ bản

• Từ chỗ giảng dạy tới chỗ tạo ra môi trường học tập và trải nghiệm cho sinh viên

•  Nghiên cứu phát triển được xem trọng hơn cả nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu cơ bản

Nguồn: J.C. Shin, Te Scholarship of Teaching, Research, and Service, pp.75-83, The Future of the Post-Massified University at the Crossroads, Knowledge Series in Higher Education vol. 1, 2014, Springer.

Từ truyền đạt tri thức trở thành môi trường trải nghiệm

Với Internet và Google, nhà trường không còn là nơi chủ yếu cung cấp kiến thức cho sinh viên như nó từng là trong bao nhiêu thế kỷ qua nữa. Laptop, iPhone, iPad, giáo dục trực tuyến mở đại trà chứa đựng những thông tin và kiến thức nhiều hơn bất kỳ ông thầy nào trong bất cứ lĩnh vực chuyên ngành nào. Sinh viên không cần đến trường để tích lũy kiến thức và hiểu biết trong các lĩnh vực chuyên ngành.

Nếu nhà trường không thay đổi, tức vẫn giữ lối học thầy giảng - trò chép và đánh giá kết quả bằng cách kiểm tra những kiến thức người học có thể nhớ được, quả thật nó không còn lý do để tồn tại vì bất cứ ai, với một máy tính nối mạng, đều có thể có được những kiến thức đó mà không cần đến nhà trường và không cần đến thầy giáo.

Nhà trường hiện đại đang trở thành một môi trường trải nghiệm nhằm mang lại cho sinh viên những phẩm chất và kỹ năng đáp ứng được đòi hỏi của thời đại hậu công nghiệp hóa.

Nếu thời đại công nghiệp tiêu biểu bằng sự phân công lao động, nhiệm vụ giao cho từng cá nhân, các bổn phận được chuyên môn hóa cao độ, bổ nhiệm dựa trên uy tín và tổ chức cấu trúc mang tính thứ bậc thì thời kỳ hậu công nghiệp đặc trưng bằng những giải pháp tổng thể, bằng cách làm việc nhóm, bằng những tri thức chuyên môn phối hợp giữa các lĩnh vực khác nhau, bằng sự tương tác chủ yếu giữa người với người, bổ nhiệm dựa trên năng lực, hiệu quả, triển vọng và tổ chức mang tính chất linh hoạt.

Kiến thức, nhất là kiến thức lý thuyết, chỉ chiếm một phần nhỏ trong toàn bộ năng lực mà người lao động tri thức cần có. Ngoài kiến thức là năng lực tư duy phê phán, khả năng lập luận và sử dụng ngôn ngữ nói và viết, kỹ năng đánh giá và nhận xét tinh tế, sử dụng thành thạo những công cụ nghe nhìn, có ý thức công dân, sự am hiểu những nền văn hóa khác và thái độ khoan dung đối với sự khác biệt, có khả năng làm việc nhóm, biết cách giao tiếp, thương lượng và xử lý mâu thuẫn.

Những năng lực này chỉ có thể có được thông qua trải nghiệm. Vì vậy, một nhiệm vụ trọng yếu của trường ĐH ngày nay là tổ chức những hoạt động nhằm tạo ra một bối cảnh, một khuôn khổ có thể gắn kết sinh viên vào những tình huống giúp họ trải nghiệm để trưởng thành về tâm lý, trí tuệ và kỹ năng. Những hoạt động đó có thể là các dự án phục vụ cộng đồng, giao lưu với sinh viên quốc tế hoặc sinh viên trường khác hay khoa khác, các cuộc thi hùng biện...

Nếu nhà trường thành công trong việc mang lại những trải nghiệm có giá trị này cho sinh viên, họ sẽ làm sinh viên của họ khác hẳn những người không được đến trường, biến nhà trường từ chỗ sinh viên buộc lòng phải đến và phải hoàn thành một số việc để lấy được tấm bằng trở thành chỗ tràn đầy hứng thú và trải nghiệm đặc biệt. Những sinh viên ấy sẽ mang các trải nghiệm này vào đời, sẽ làm thay đổi bộ mặt nơi họ làm việc, qua đó nhà trường tạo ra tác động thay đổi xã hội.

Một điểm cần lưu ý khác, trọng tâm của nhà trường hiện đại đã chuyển từ chỗ truyền đạt tri thức sang huấn luyện kỹ năng và xây dựng năng lực trong thập kỷ qua, nay tiếp tục chuyển thành gắn kết với cộng đồng (địa phương và toàn cầu). Thế giới ngày nay nếu có thể được miêu tả vắn tắt trong hai từ thì đó là từ tương liên (interconnected) và tương thuộc (interdependent).

Hơn bao giờ hết, thành công của mỗi cá nhân và sự phát triển lành mạnh của xã hội phụ thuộc sâu sắc vào năng lực gắn kết với cộng đồng và hiểu rõ mối quan hệ tương liên và tương thuộc giữa các cá nhân, các tổ chức và các quốc gia. Vì vậy, những biến đổi trong khoa học công nghệ dẫn đến những biến đổi trong cách con người tương tác với nhau và do đó quan niệm về trường ĐH, lý do cho sự tồn tại của nhà trường và cách thức mà nhà trường tồn tại cũng phải thay đổi để đáp ứng với thực tại ấy.

Hẳn nhiên từ bỏ ý nghĩ nhà trường phải “nhào nặn” sinh viên trở thành một sản phẩm với những yêu cầu đã định, phải kiểm soát tư tưởng và hành động của họ để họ không có những hành vi nguy hiểm chắc chắn là điều không dễ dàng. Tuy nhiên, công nghệ hiện đại đã làm ý định nhào nặn và kiểm soát ấy trở thành bất khả, vì vậy cách khôn ngoan nhất đối với nhà trường là xây dựng những chiến lược đáp ứng với bối cảnh ấy.

Một số trường ĐH hàng đầu như Harvard đang khuyến khích sinh viên có một học kỳ cách quãng trong bốn năm học, một học kỳ mà họ có thể làm bất cứ điều gì, chỉ trừ việc đến giảng đường và ngồi trong thư viện. Khi ý tưởng này được trình bày ở một trường ĐH hàng đầu Trung Quốc đã có người lập tức bày tỏ băn khoăn: “Nghe hay đấy! Nhưng chúng tôi phải yêu cầu họ nộp đề xuất rồi sau đó phải viết báo cáo, nếu không thì ai biết họ sẽ làm gì với một học kỳ rong chơi như thế?”.

Có thể nói người phát biểu đã không nắm được ý nghĩa của sáng kiến này - vốn nhắm tới việc tạo ra không gian để sinh viên trưởng thành theo cách thích hợp với từng người. Như một mầm cây bỏ vào trong hộp, nó chỉ có thể lớn lên trong khuôn khổ cái hộp ấy. Điều nhà trường hiện đại cần làm không phải là tạo ra cái hộp ấy, mà là cho hạt mầm một khoảng không đủ rộng và tưới bón để nó nảy nở hết mức có thể.  

 

PHẠM THỊ LY

Giám đốc Trung tâm Đánh giá Giáo dục Đại học

Trường Đại học Nguyễn Tất Thành

Nguồn: Báo Tuổi trẻ