Chatbot NTTU

Trường ĐH Nguyễn Tất Thành thúc đẩy tiếp cận đa ngành trong điều trị và phục hồi chức năng vẹo cột sống

NTTU-HoinghiPHCN

NTTU – Vừa qua, tại cơ sở chính, Trường ĐH Nguyễn Tất Thành đã tổ chức thành công Hội nghị khoa học Phục hồi chức năng “Vẹo cột sống – Tiếp cận đa ngành trong Phục hồi chức năng & Chương trình tập luyện cá nhân hóa”

Tham dự chương trình có sự hiện diện của: PGS. Mantana Vongsirinavarat – Đại học Mahidol (Thái Lan); PGS. Vimonwan Hiengkaew – Đại học Mahidol (Thái Lan); PGS. Warin Krityakiarana – Đại học Mahidol (Thái Lan); ThS. Võ Thị Mộng Tuyền – Kỹ thuật viên Trưởng Khoa – Khoa YHCT-PHCN, Bệnh viện Nhân dân 115; BS.CKII. Trịnh Minh Tú – Phó khoa Nội Phục hồi chức năng, Bệnh viện Chỉnh hình & Phục hồi chức năng TP. HCM; TS.BS.Hồ Quang Hưng – Phó Trưởng khoa Phục hồi chức năng – Bệnh viện Chợ Rẫy.  Cùng với đó là sự có mặt của các nhà khoa học, giảng viên, bác sĩ, nhà Vật lý trị liệu trong lĩnh vực phục hồi chức năng.

Về phía Trường ĐH Nguyễn Tất Thành có: PGS.TS. NGƯT. Nguyễn Kim Hồng – Hiệu trưởng Nhà trường; TS.BS. Hoàng Văn Quang – Phó trưởng Khoa Y; TS.BS.CKII. Đỗ Trọng Ánh – Trưởng ngành Kỹ thuật Phục hồi chức năng. Cùng sự hiện diện của giảng viên, nhân viên, sinh viên ngành Kỹ thuật Phục hồi chức năng Trường ĐH Nguyễn Tất Thành và các trường Đại học trên cả nước.

NTTU - HoinghiPHCN

PGS.TS.NGƯT. Nguyễn Kim Hồng trao hoa và thư cảm ơn cho các báo cáo viên

Phát biểu khai mạc hội nghị, TS.BS.CKII. Đỗ Trọng Ánh – Trưởng ngành Kỹ thuật Phục hồi chức năng, khoa Y Trường ĐH Nguyễn Tất Thành nhấn mạnh, hội nghị Khoa học Phục hồi chức năng được tổ chức trong bối cảnh ngành phục hồi chức năng Việt Nam đang đẩy mạnh phát triển theo tinh thần Quyết định số 569/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình phát triển hệ thống phục hồi chức năng đến năm 2030, tầm nhìn 2050, đặc biệt chú trọng phát hiện sớm, can thiệp sớm và nâng cao chất lượng điều trị. Trước những ảnh hưởng lâu dài của vẹo cột sống đối với sức khỏe và chất lượng cuộc sống, hội nghị là dịp để các chuyên gia trong nước và quốc tế trao đổi, cập nhật kiến thức về lượng giá lâm sàng, điều trị bảo tồn và cá thể hóa chương trình can thiệp, nâng cao hiệu quả phục hồi chức năng cho người bệnh.

NTTU - HoinghiPHCN

TS.BSCKII. Đỗ Trọng Ánh phát biểu tại hội nghị

Nhận diện sớm và đánh giá toàn diện trong điều trị vẹo cột sống

Từ góc độ lâm sàng, TS.BS.CKII. Đỗ Trọng Ánh – Trưởng ngành Kỹ thuật Phục hồi chức năng tập trung phân tích tổng quan về vẹo cột sống, từ đặc điểm bệnh lý, nguyên nhân, phân loại đến cơ chế tiến triển và định hướng điều trị. Theo đó, vẹo cột sống là tình trạng biến dạng cong sang bên trên mặt phẳng trán, kèm theo hiện tượng xoay đốt sống, được xác định khi góc Cobb >10°. Bệnh được chia thành hai nhóm chính gồm vẹo cột sống không cấu trúc (chức năng, có thể mất đi) và vẹo cột sống cấu trúc (bẩm sinh, thần kinh – cơ, bệnh lý kèm theo hoặc vô căn). Trong đó, vẹo cột sống vô căn chiếm khoảng 70–80%, thường gặp ở nữ giới và khởi phát trong giai đoạn dậy thì.

Đi sâu vào cơ chế tiến triển của bệnh, TS.BS.CKII. Đỗ Trọng Ánh nhấn mạnh mối liên hệ giữa biến dạng cột sống và quá trình tăng trưởng xương, đặc biệt trong giai đoạn trẻ phát triển nhanh. Việc phân loại theo tuổi khởi phát, mức độ góc Cobb và hệ thống Lenke, kết hợp đánh giá sự trưởng thành của hệ xương bằng dấu Risser, có vai trò quan trọng trong tiên lượng nguy cơ tiến triển. Các định luật Hueter-Volkmann và Wolff cũng được đề cập nhằm lý giải tác động của tải trọng cơ học đối với sự phát triển và biến dạng cột sống. Trên cơ sở đó, TS.BS.CKII. Đỗ Trọng Ánh  cũng đưa ra phương pháp điều trị được xác định theo mức độ cong vẹo: dưới 20° theo dõi và tập luyện, từ 20–40° sử dụng áo nẹp kết hợp vật lý trị liệu, trên 40–45° xem xét chỉ định phẫu thuật nhằm ngăn tình trạng tăng nặng, giảm biến dạng và duy trì cân bằng thân mình.

Từ cơ sở bệnh học và định hướng điều trị, TS. Đào Thị Hiệp – Phó trưởng ngành Kỹ thuật phục hồi chức năng Trường ĐH Nguyễn Tất Thành tiếp cận vấn đề ở góc độ phát hiện sớm và những ảnh hưởng của vẹo cột sống đối với sức khỏe người bệnh. Báo cáo đề cập các yếu tố nguy cơ như tư thế xấu, bàn ghế không phù hợp, cặp sách nặng và thiếu vận động, đồng thời chỉ ra những biểu hiện thường gặp gồm đau lưng, hạn chế vận động, rối loạn tư thế và ảnh hưởng tâm lý. Đáng chú ý, hoạt động sàng lọc bằng nghiệm pháp Adams và đo góc xoay thân được nhấn mạnh, trong đó góc xoay thân ≥7° là ngưỡng cần chuyển người bệnh đến chuyên khoa để đánh giá chuyên sâu. Theo khuyến cáo SOSORT 2016, can thiệp sớm hướng đến ngăn chặn hoặc làm chậm tiến triển đường cong trong giai đoạn dậy thì, phòng ngừa rối loạn hô hấp, giảm đau và cải thiện dáng bộ bằng các kỹ thuật chỉnh sửa tư thế.

Mở rộng từ hoạt động lượng giá lâm sàng sang xây dựng chương trình can thiệp, PGS. Mantana Vongsirinavarat phân tích các hệ thống phân loại King, Lenke, Nash-Moe và đặc biệt là Schroth với các nhóm 3C, 3CP, 4C và 4CP dựa trên số lượng đường cong và sự tham gia của khung chậu. PGS. Mantana Vongsirinavarat đồng thời làm rõ những yếu tố làm gia tăng nguy cơ tiến triển của vẹo cột sống vô căn ở thanh thiếu niên (AIS), gồm đường cong lớn, khởi phát sớm, dấu Risser thấp và giai đoạn tăng trưởng xương. Việc xác định chính xác đặc điểm biến dạng ba chiều, mức độ trưởng thành của hệ xương và nguy cơ tiến triển là cơ sở để lựa chọn phương pháp điều trị bảo tồn phù hợp, đặc biệt trong giai đoạn người bệnh chưa trưởng thành xương.

Các báo cáo làm rõ nguyên nhân, giải pháp cũng như hướng điều trị của vẹo cột sống

Ứng dụng bài tập đặc hiệu và cá thể hóa chương trình phục hồi chức năng vẹo cột sống

Trên cơ sở kết quả phân loại và lượng giá, các báo cáo chuyên sâu tiếp tục tập trung vào những phương pháp điều trị bảo tồn đối với vẹo cột sống vô căn ở thanh thiếu niên (AIS), gồm bài tập đặc hiệu cho vẹo cột sống (Scoliosis-Specific Exercises – SSE), vật lý trị liệu, áo nẹp, kích thích điện và các kỹ thuật hỗ trợ khác. Trong đó, PGS. Mantana Vongsirinavarat nhấn mạnh việc cá thể hóa chương trình điều trị theo đặc điểm đường cong, mức độ biến dạng và khả năng phát triển của hệ xương, hướng đến làm chậm hoặc ngăn chặn tiến triển của bệnh, cải thiện thẩm mỹ, chức năng hô hấp, giảm đau và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Về các phương pháp tập luyện, PGS. Mantana Vongsirinavarat giới thiệu những trường phái SSE gồm Klapp, BSPTS, Dobomed, Side Shift, FITS, Lyon, SEAS và Schroth. Các phương pháp này đều chú trọng nguyên tắc hiệu chỉnh ba chiều (3D), tự hiệu chỉnh tư thế thông qua hoạt động co cơ, dịch chuyển thân mình, kéo dài cột sống và kiểm soát hô hấp. Đặc biệt, phương pháp Schroth, được phát triển từ những năm 1920 bởi Katharina Schroth được phân tích với các nguyên tắc huấn luyện tư thế, định vị cơ thể, hô hấp xoay chỉnh (derotation), ổn định bằng co cơ đẳng trường và kỹ thuật thủ công nhằm hạn chế tiến triển đường cong, cải thiện biến dạng và hình thành thói quen duy trì tư thế đúng trong sinh hoạt hằng ngày.

Nhiều nhà khoa học, chuyên gia, kỹ thuật viên đặt vấn đề tại hội nghị

Cũng trong nguyên tắc hiệu chỉnh ba chiều, ThS.VLTL Nguyễn Hoàng Linh – Giảng viên Trường ĐH Văng Lan tập trung làm rõ sự phối hợp giữa kiểm soát hô hấp, ổn định thân mình và giáo dục người bệnh trong phục hồi chức năng vẹo cột sống vị thành niên. Dựa trên các bằng chứng từ Cochrane 2024, phân tích gộp (meta-analysis) năm 2024 và thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên (RCT) năm 2025, báo cáo đề cập những lợi ích của bài tập đặc hiệu vật lý trị liệu cho vẹo cột sống (Physiotherapeutic Scoliosis-Specific Exercises – PSSE) đối với biến dạng cột sống, chức năng hô hấp và chất lượng cuộc sống, đồng thời lưu ý việc diễn giải thận trọng các kết quả nghiên cứu.

Về kỹ thuật can thiệp, kiểm soát hô hấp được triển khai theo nguyên tắc tạo không gian, định hướng luồng khí và duy trì tư thế đã hiệu chỉnh trong quá trình thở ra, hình thành chu kỳ thở định hướng ba chiều (3D). Song song đó, ổn định thân mình được tiếp cận như một quá trình kiểm soát động, phát triển từ khả năng cảm nhận cơ thể, tăng sức bền cơ đến tự động hóa vận động thông qua các mức độ tiến triển bài tập. Việc tích hợp hô hấp, tự hiệu chỉnh tư thế và ổn định động giúp chương trình phục hồi chức năng hướng đến cải thiện khả năng kiểm soát cơ thể trong các hoạt động thường ngày.

Bên cạnh yếu tố kỹ thuật, ThS.VLTL Nguyễn Hoàng Linh cho biết, giáo dục người bệnh được xác định là thành phần cốt lõi nhằm duy trì hiệu quả can thiệp. Các công cụ như teach-back, thiết lập mục tiêu SMART và kế hoạch hành động “nếu – thì” được giới thiệu nhằm hỗ trợ người bệnh hiểu đúng tình trạng sức khỏe, tham gia quyết định điều trị và chủ động tự quản lý chương trình tập luyện. Từ các nguyên tắc điều trị bảo tồn đến những kỹ thuật phục hồi chức năng chuyên sâu, ThS.VLTL Nguyễn Hoàng Linh đã làm rõ vai trò của việc cá thể hóa chương trình can thiệp, kết hợp bài tập đặc hiệu, kiểm soát hô hấp, ổn định thân mình và giáo dục người bệnh. Đây cũng là cơ sở để thúc đẩy ứng dụng các phương pháp vật lý trị liệu dựa trên bằng chứng khoa học, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị và khả năng duy trì kết quả phục hồi chức năng lâu dài.

Có thể nói, hội nghị khoa học Phục hồi chức năng không chỉ là diễn đàn chia sẻ kiến thức khoa học mà còn là cơ hội kết nối, trao đổi kinh nghiệm thực tiễn giữa các chuyên ngành chỉnh hình, phục hồi chức năng, nhi khoa, vật lý trị liệu, hoạt động trị liệu và giáo dục thể chất học đường, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh và phát triển nguồn nhân lực phục hồi chức năng trong thời gian tới.

Thực hiện: Hồng Quang

Ảnh: Media

Tin tức khácXem thêm